Kết Luận
Kết Luận
Qua phần giới thiệu một số ca khúc âm hưởng âm nhạc cổ truyền Việt Nam tiêu biểu của các thời kỳ trước và phân tích, tìm hiểu sự tương quan giữa nội dung và hình thức qua cách thức vận dụng các yếu tố truyền thống hiện đại trong các ca khúc đương đại tôi rút ra những vấn đề sau:
Trong năm yếu tố thì yếu tố luyến láy và đường nét âm điệu thể hiện rõ nhất bản sắc từng thể loại, vùng miền nên thường được các nhạc sỹ sử dụng nhiều nhất.
Như ta đã biết, yếu tố luyến láy liên quan mật thiết với ngôn ngữ người Việt nên muốn thể hiện cho ra tính chất vùng miền trong một ca khúc nào đó không thể không vận dụng những nét luyến láy thể hiện ngữ điệu vùng đó, dễ thấy nhất là các ca khúc âm hưởng dân ca miền Trung với các nét luyến lên quãng 4 ở các thanh điệu: “Cõng mẹ đi chơi”, “Yêu cái mặn mà” (Trần Quế Sơn), “Huế tình yêu của tôi” (Trương Tuyết Mai), “Huế thương ” (An Thuyên)…
Không chỉ thể hiện ngữ điệu vùng miền, luyến láy còn là kỹ thuật đặc trưng của một số thể loại âm nhạc cổ truyền. Ca Trù cũng có những nét luyến láy rất độc đáo mà một số tác giả đã vận dụng vào các ca khúc của mình như: “Chiều Phủ Tây Hồ” - Phú Quang, thơ: Thái Thăng Long, “Đá trông chồng” (Lê Minh Sơn), “Mái đình làng biển” (Nguyễn Cường), “Trên đỉnh Phù Vân” (Phó Đức Phương)…
Đường nét âm hình cũng thể hiện rất rõ màu sắc riêng của từng thể loại, vùng miền như những đường nét trong dân ca Khu Năm, Bài Chòi, hò Huế, hò Nam bộ, Ru, Chèo, Hát Xẩm, Nhạc Tài Tử…mà nhiều tác giả cũng đã sử dụng rất thành công trong các ca khúc của mình: “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường), “Hát ru@” (Nguyễn Vĩnh Tiến), “Son” (Đức Nghĩa), “Cõng mẹ đi chơi” , “Yêu cái mặn mà” (Trần Quế Sơn), “Huế thương” (An Thuyên), “Bẽ bàng bướm đậu mù u” (Trương Quang Tuấn)…
Các tác giả đã biết “đổi mới”, “hiện đại hóa”, vận dụng đúng theo chủ trương “truyền thống - hiện đại”, bảo tồn phải đi song song với phát triển trong việc kết hợp các yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại khác để các ca khúc vừa có giá trị bảo tồn mà vẫn mang tính thực tiễn.
Ngoài việc kết hợp các thang âm điệu thức 5 âm Việt Nam và 7 âm phương Tây thì các tác giả còn vận dụng các giai điệu kiểu Fanfare truyền thống châu Âu làm cho các ca khúc trở nên mạnh mẽ, hào hùng như trong ca khúc “Chiến thắng Điện Biên” (Đỗ Nhuận)… Kết hợp các yếu tố truyền thống với tiết tấu, nhịp điệu hiện đại (rock, symphonie rock, pop rock hoặc hip hop) tạo nên những ca khúc sôi động, thích hợp với tuổi trẻ: “Về ăn cơm” (Sa Huỳnh), “Cõng mẹ đi chơi”, “Thưa các em miền Nam” (Trần Quê Sơn), “Em muốn sống bên anh trọn đời”, “Ly cà phê Ban Mê” Nguyễn Cường…
Không những kết hợp những yếu tố truyền thống và hiện đại mà các tác giả còn kết hợp các yếu tố truyền thống của nhiều thể loại, vùng miền tạo nên những ca khúc hết sức phong phú về màu sắc như “Chiến thắng Điện Biên” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã kết hợp các đường nét làn điệu Chèo người Kinh với những âm điệu dân ca Tây Bắc.
Một trong những tác giả thường xuyên kết hợp nhiều chất liệu truyền thống trong một ca khúc là Trần Tiến như: “ Ngẫu hứng Sông Hồng ” (kết hợp dân ca Bắc bộ và Nam bộ), “ Mưa bay tháp cổ ” sử dụng những hình tượng “tháp cổ”, “cong cong năm ngón”, nữ thần Apsara quen thuộc trong tín ngưỡng người Chăm Bình Thuận kết hợp với điệu thức 5 âm, đường nét, tiết tấu, ca từ của người Kinh đồng bằng Bắc bộ, “ Tiếng trống Paranưng ” kết hợp các yếu tố hình tượng, luyến láy của dân tộc Chăm và điệu thức người Kinh Nam bộ.
Với các ca khúc đương đại thì sự kết hợp cũng phong phú không kém và còn có những sáng tạo rất thú vị.
- Kết hợp giữa điệu thức Oán biến thể đặc trưng vùng Nam bộ và điệu thức Bắc để diễn tả duyên “Tơ hồng” giữa cô gái vùng “Sông Cầu” và chàng trai vùng “Sông Hậu” trong bài “Tơ hồng” của tác giả Nhất Sinh.
- Kết hợp giữa các đường nét âm nhạc cổ truyền Bắc bộ: Chèo, Hát Xẩm, Ca Trù trong cùng một ca khúc như với “Son” của Đức Nghĩa, “Nắng có còn xuân” (Đức Trí).
- Kết hợp giữa các hình tượng hiện đại và dân gian tạo sự ví von, tương phản rất thú vị: taxi - tơ nhện, đèn đường - ông trăng, tiếng rao - tiếng ru, đại lộ - đồng rộng, cá vàng - cua đi ngập càng… trong “Hát ru @” của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến.
- Kết hợp giữa các loại nhịp điệu, tiết tấu và đường nét âm hình khác nhau như trong ca khúc “Giăng tơ” của tác giả Lưu Hà An sử dụng tiết tấu hò khoan biến thể, lập đi lập lại đều đặn diễn tả hình ảnh giăng tơ miệt mài của con nhện kết hợp với tiết tấu trường canh đều đặn của đồng dao trong một đoạn ca từ cũng rất gần với những bài hát thể loại này của trẻ em nông thôn Việt Nam: “Dọc ngang tơ lòng - một vòng âm dương - xin bà nắm xôi - xin ông hũ rượu - nàng cho chiếc kiệu - chàng cho ngựa tía - để đêm trăng tròn - ngũ hành bát quái - đi hết một vòng âm dương”
Thêm vào đó, ca khúc này còn kết hợp nhiều đường nét âm hình của các thể loại âm nhạc cổ truyền Bắc bộ như: Chèo, Chầu Văn, Ca Trù tạo nên một ca khúc hết sức độc đáo về màu sắc, hình tượng.
Đặc biệt, một số ca khúc không sử dụng yếu tố thang âm ngũ cung; yếu tố mà một số người lầm tưởng rằng chỉ có Việt Nam mới có mà chỉ sử dụng thang 7 âm kết hợp với các yếu tố khác vẫn làm nên được những ca khúc hay mang âm hưởng âm nhạc truyền thống Việt Nam như với bài “Quê em mùa nước lũ” của nhạc sĩ Tiến Luân. Ngoài câu nhạc đầu tiên sử dụng một dạng biến thể của điệu thức Oán thì toàn bộ phần còn lại của bài hát sử dụng điệu thức thứ 7 âm kết hợp với các yếu tố như: hình tượng, luyến láy thanh điệu, các đường nét âm điệu và nhịp điệu chu kỳ hỗn hợp đã làm cho ca khúc vẫn giàu chất “sông nước Nam bộ”.
Một ca khúc khác cũng không sử dụng yếu tố thang 5 âm là “Huế tình yêu của tôi” của tác giả Trương Tuyết Mai. Toàn bộ bài này sử dụng điệu thức trưởng 7 âm kết hợp với các yếu tố hình tượng, luyến láy thể hiện thổ ngữ, các đường nét âm hình tạo nên một trong những ca khúc về Huế được yêu thích.
Bên cạnh đó cũng có những ca khúc mà âm hưởng truyền thống chỉ lướt qua nhưng tính chất hiện đại của nó vẫn thu hút được công chúng trẻ như trường hợp của ban nhạc Rock “Ngũ Cung”. Hoặc có những ca khúc vẫn nghe âm hưởng truyền thống như khi phân tích thì không tìm được những yếu tố biểu hiện cụ thể nào vì tác giả có lẽ đã thẩm thấu các yếu tố đó và “hòa tan” nó trong tác phẩm của mình.
Tóm lại, chính nhờ cách kết hợp hài hòa giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại để đảm bảo được sự tương quan, thống nhất giữa hình thức và nội dung mà những ca khúc này đã gặt hái được những thành công, góp phần làm phong phú cũng như nâng cao thẩm mỹ nghệ thuật trong đời sống âm nhạc cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Cuộc sống là sự chuyển động không ngừng và âm nhạc cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Âm nhạc truyền thống cũng vậy, qua từng thời kỳ nó đều có những biến đổi, từ những bài hát phục vụ cho các nhu cầu hội hè, nghi lễ, lao động, sinh hoạt… của người nông dân xưa là chủ yếu với những đặc điểm như có thể thấy trong phần phân tích ở chương 1. Đến thời kỳ giao thoa với nền văn hóa phương Tây âm nhạc truyền thống đã có những kết hợp để đáp ứng được nhu cầu về văn hóa và tinh thần lúc ấy, như việc kết hợp với các đường nét Fanfare, các vũ điệu châu Âu như Tango, Valse…trong các ca khúc trữ tình và hành khúc như có thể thấy trong phần “Giới thiệu một số ca khúc âm hưởng dân ca và nhạc cổ truyền tiêu biểu qua các thời kỳ” (2.2). Đến các ca khúc đương đại thì những yếu tố truyền thống được sử dụng lại có những sự biến đổi như kết hợp với các yếu tố tiết tấu của các loại hình âm nhạc pop, rock, symphonie rock hoặc hip hop tạo cho ca khúc một sự trẻ trung, phù hợp với nhịp điệu của cuộc sống hiện đại. Hình tượng, ca từ cũng có những kết hợp táo bạo như đã nêu trên.
Trong tương lai, mười, hai mươi năm nữa chắc chắn những yếu tố truyền thống cũng tiếp tục có những thay đổi khi vận dụng vào âm nhạc lúc bấy giờ. Thay đổi như thế nào, vận dụng ra sao để vừa thích hợp với thời đại mới, vừa không làm thay đổi về cốt cách, hồn vía của âm nhạc truyền thống Việt Nam là vấn đề còn nhiều tranh luận, nhưng để lưu truyền, tồn tại, chắc chắn nó phải có sự biến đổi theo quy luật.
Từ khi hội nhập, “mở cửa”, đất nước đã có một vận hội mới, hòa chung với thế giới để phát triển về nhiều mặt: khoa học kỹ thuật, kinh tế, giáo dục, nghệ thuật… Đời sống người dân đã thay đổi rõ rệt, ngày càng được nâng cao về sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, song song với việc đón nhận những cái hay, cái mới của thế giới thì giới trẻ hiện nay cũng đang bị ảnh hưởng nhiều từ văn hóa bên ngoài, từ những phương tiện truyền thông hiện đại mà cụ thể là mạng internet, đặc biệt là với âm nhạc.
Mạng internet không những giúp người ta ngồi một chỗ mà có thể tìm hiểu thông tin của nhiều lĩnh vực, thưởng thức nhiều loại hình nghệ thuật trong đó có âm nhạc, mà thời gian gần đây, nó hầu như đã trở thành “hội đồng nghệ thuật” trong một số kiểu dạng bình chọn. Nếu để ý ta có thể nhận thấy gần đây giá trị của một tác phẩm, một ca khúc chủ yếu phụ thuộc vào các phương tiện, máy móc hiện đại, thể hiện qua cách thức của rất nhiều cuộc thi là: nhắn tin bình chọn. Một hình thức nữa là các trang mạng bình chọn, xếp hạng với các danh hiệu: “bài Hit”, “bài top”… thông qua số lượng truy cập. Vậy là “giá trị nghệ thuật” của các ca khúc xếp hạng theo dạng này được đánh giá theo số lượng tin nhắn của người bình chọn, số lượng truy cập của người nghe online, người tải về, trong khi không phải bất cứ người nào nhắn tin bình chọn cũng vì yêu thích một cách khách quan, không phải người nghe nào cũng vì cái hay, vì giá trị nghệ thuật của một ca khúc mà có những người nghe vì tò mò, vì công việc đòi hỏi, vì thấy tựa bài, ca từ giật gân… từ đó g


