Hòai niệm Sophie Vương quốc Annam do giáo sĩ Alecxăndrơ dơ Rôđơ họa (1653)
Hòai niệm Sophie Vương quốc Annam do giáo sĩ Alecxăndrơ dơ Rôđơ họa (1653)
Khuyến khích tự do sao lại, nhứt là ở Việt Nam.
Việt Nam 1920-1945
Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân
Chuông Rè / L’insomniaque
LỜI PHÀM BIỆT
Kể từ 1887 cho đến 1954, xứ Việt Nam là bộ phận xứ Đông Dương thuộc Pháp đô hộ, chia ra làm ba Kỳ:
- Bấc Kỳ, kinh đô Hà Nội
- Trung Kỳ, kinh đô Huế và
- Nam Kỳ, kinh đô Sài Gòn (Nay là Bấc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
Dân số năm 1940 độ 20 triệu người: ở Bấc 9,4 - Trung 6,4 - Nam 4,8.
Dân cư 9/10 là người Việt (Kinh), ngoài ra còn có những dân tộc ít người mà người ta ít nói đến, họ bị lấn ép vào miền rừng núi. Ớ Bắc có dân Tày, Thái, Mường, Máng, Nùng, Mèo (Hmông), Dao..., ở miền Trung có dân Chàm, cùng các dân /tục gọi mọi Giarai, Eđê, Bana, Sơđăng, Mnông, Ma, Xtiêng ..., ở Nam có người Chàm và Khơme, tục gọi người Caomèn. Dân tộc ít người đông nhất là Hoa kiều gồm người Tàu di cư sang Việt Nam và người Minh Hương (Tàu lai).
Từ trước đến 1945, các tài liệu thông thường đều dùng hai chữ An Nam đồng như chữ Annamite trong văn kiện Pháp. Thế nên chúng tôi vẫn giữ nguyên văn theo các văn kiện thời ấy, hai chữ Việt Nam trở nên thông thường kể từ 1945.
Những chữ viết tắt
- ĐCSĐD - Đảng Cộng sản Đông Dương
- ĐVNĐL - Đảng Việt Nam Độc Lập
- VNQDĐ -Việt Nam Quốc Dân Đảng
- sđd - sách đã dẫn
- ntr - như trên
- vt - và tiếp theo
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH sử THAY LỜI TựA
KỂ từ thế kỷ 16, bọn lái buôn và truyền giáo sĩ người xứ Pottugalơ và spa-nhơ đã từng lui tới các ven biển Đông Dưong. Sau đó thì có những người Hòa Lan, Ảnglê. Các giáo sĩ giêzuýt (Thiên Chúa Giáo) tới Nam Kỳ vào năm 1615. Mười năm sau, giáo sĩ Alecxănđro đo' Rôđo chỉ dẫn cùng họ tạo ra chữ quốc ngữ, lấy chữ a b c viết ra tiếng An Nam, thay thế chữ nôm, chữ viết hiện hành thời đó, mượn chữ Hán mà viết ra thành ra ít người đọc nổi. Chẳng bao lâu về sau, ở thành Rỏma có xuất bản quyển Giáo Lý bằng tiếng latin và quốc ngữ. Lẽ cố nhiên, xin nhắc lại rằng việc phát minh chữ quốc ngữ sau này rất quan trọng trong việc truyền bá văn hóa Việt vào thế kỷ 20.
Truyền đạo và bán buôn trục lợi - cây thánh giá hội hiệp với đòn cân - ta có thể xem truyền giáo sĩ và lái buôn là những kẻ đi tiên phong trong cuộc xâm chiếm thuộc địa.
Chúa Trịnh, chúa Nguyễn
Thời ấy dân Việt Nam sống dưới ách đô hộ của hai gia tộc cường hào thù nghịch nhau, cả hai đều là gian thần vua Lê và thường cùng nhau chinh chiến. Chúa Trịnh thống quản Bắc Kỳ (Đàng ngoài) đóng đô ả Thăng Long, chúa Nguyễn trị vì Trung Kỳ (Đàng trong), đóng đô ả Huế.
Phía Nam lãnh thổ Việt, quốc vưong Chàm chạy dài tới Phan Thiết (Bình Thuận), còn xuống thẳng tới Cà Mau thì có những đất phì nhiêu châu thổ tam giác sông Cửu Long là xứ người Cao Mên hay Khơme.
Từ đầu thế kỷ thứ 17, chúa Nguyễn khởi đầu xâm chiếm xứ Chàm (tới Qui Nhơn năm 1602) rồi thôn tính toàn bộ quốc vưong Chàm vào lối cuối thế kỷ (tới Phan Thiết năm 1897). Một tảng đá có khắc chữ
VIỆT NAM 1920-1945
Chàm ghi nhớ việc người Chàm bị người An Nam áp bức trên đường Nam Tiến: « Con của người An Nam sai khiến người Chàm như sai khiến trâu. Người An Nam sai khiến rồi cười, bên họ có vua! còn người Chàm mồ côi...»
Đồng một lượt người Việt tiếp tục xuống miền Nam, khởi đầu khẩn hoang, kinh doanh đồn điền, có lúc tiếp xúc hòa bình với người bản xứ, lúc lại tác chiến xâm chiếm đất Khơme bấy giờ rất ít dân cư. Họ chiếm Bà Rịa từ năm 1658 rồi lấy Sài Gòn, bấy giờ là Pơrây Nỏkoo năm 1675 '.
Năm 1673, chúa Nguyễn vừa ký kết đình chiến với chúa Trịnh, thừa nhận sông Gianh, gần lối vĩ tuyến 18, là bờ cõi phân hai lãnh địa 2 '
Trong công cuộc bành trướng lãnh thổ, chúa Nguyễn được trợ giúp: một đạo binh người Tàu 3000 người trên 50 chiếc thuyền chạy thoát quyền đò hộ Mãn Châu tới Đà Nẵng xin lánh nạn. Chúa Nguyễn bèn tống họ đi về phía Nam khai khẩn và chiếm đất, lúc bấy giờ vua Khơme đã phục tùng chúa Nguyễn. Những người lánh nạn ấy an bài ả Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho, sau cùng ỏ Chợ Lớn; họ bán buôn, trồng tỉa và cưóp giật. Họ là thủy tổ Hoa kiều ỏ Nam Kỳ.
Một số người Tàu di dân khác ả Quảng Đông tới lập nghiệp trong vùng Hà Tiên, đó cũng vẫn là đất Khơme, sau đó họ khuếch trưong lĩnh vực của họ từ đảo Phú Quốc tới Rạch Giá và Cà Mau. Thủ lĩnh của họ, tên phiêu bạc Mạc Cửu chịu dưới quyền đô hộ nhà Nguyễn vào năm 1714, Việt Hoa ăn chung ả lộn sinh ra những người lai, tục gọi Minh Hưong.
Trong nhóm di dân có tín đồ hội kín « phản Thanh phục Minh » cảm hóa người đồng cảnh ngộ, hiệp nhau tạo ra bên ngoài xã hội công khai, một trật tự xã hội kín đáo có nghi thức riêng, đây là cội rễ các phái chính trị tôn giáo có tính chất mưu toan lật đổ đương quyền - đặc biệt như Thiên Địa Hội - thù sâu chống người Âu Tây đột nhập.
Năm 1698, nhà Nguyễn chế định Sài Gòn là đầu phủ các tỉnh Gia Định và Đồng Nai (Biên Hòa); năm 1733, tới lượt Long Hô (Vĩnh Long) rồi đến Định Tường (Mỹ Tho) đều bị chiếm. Năm 1754, một quan tổng trấn ngự tại Sài Gòn đặt các lãnh thổ đã chiếm theo luật nhà Nguyễn rồi người An Nam tiếp tục thâm nhập cho tới cuối miền Nam.
Tuy nhiên các chúa Nguyễn còn phải đương đầu cùng nhiều địch thủ mới.
Giặc Táy Sơn lật đổ chúa Nguyễn, chúa Trịnh
Nông dân nổi dậy thường xuyên, làm rung động cả hai trào chúa Nguyễn Trịnh.
Có ba anh em, cả ba đều thuộc hạng sĩ phu - quê quán ở ấp Tây Sơn (ngày nay là An Khê, Qui Nhơn), vì vậy tên gọi Tây Sơn - Nguyễn Văn
MỘT VÀI MỤC PHIÊU LỊCH sử
Nhạc làm biện lại, cùng hiệp sức với hai em là Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ, nhờ « đoạt của nhà giàu để cứu giúp người nghèo » 3 mà họ chiêu tập được ít ngàn nông dân. Ba anh em chiếm thành Qui Nhơn năm 1773, sau đó đoạt toàn Trung Kỳ và đánh đuổi chúa Trịnh ở Bắc Kỳ.
Họ tiến thẳng tới Gia Định năm 1776 rồi hạ sát chúa Nguyễn đang cư trú ở đó. Chỉ một mình hoàng tử Nguyễn Ánh, 16 tuổi được thoát thân. Rồi đây Nguyễn Ánh sẽ cầu Pháp giúp để phục hồi ngòi chúa.
Tây Sơn đang làm chủ tể toàn xứ, từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ.
Thánh giá mở đường gươm súng
Vừa tới Nam Kỳ năm 1767, giám mục Bá Đa Lộc (tên thật là Pigneau de Behaine), người của Hội truyền giáo ngoại bang ở Paris, bèn ra tay cứu vớt Nguyễn Ánh lúc bấy giờ bị Tây Sơn đuổi theo, đang cùng sáu viên quan và độ trăm người tùy tùng trung thành ẩn lánh tại cù lao Phú Quốc. Giám mục làm thầy và người chỉ dẫn cho Nguyễn Ánh.
Nguyễn Ánh trao trọn quyền thay mặt mình cho giám mục Bá Đa Lộc khi ông này trở về Pháp hồi tháng 12 năm 1784, để yêu cầu vua Lu-i XVT trợ giúp về mặt binh bị. Giám mục tới Paris năm 1787, chính năm thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc xưng đế ở miền Trung, lấy niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại Qui Nhơn (Bình Định), đồng thời Nhạc phong Huệ làm vua các tỉnh ở Bắc còn Lữ ngự trị các tỉnh miền Nam.
Giám mục tâu với vua Lu-i XVI:
Ông vua chính tông ở Nam Kỳ bị một kẻ soán ngôi lật đổ, ngài sai tôi (cùng đứa con một của ngài năm nay 16 tuổi) đến khẩn cầu vua nước Pháp trợ giúp. Xứ Nam Kỳ giàu có lắm và hoạt động sinh sản thật phi thường. Những vật liệu đặc dùng trong cuộc nội thương và ngoại thương là: vàng, hạt tiêu, quế, lụa là, bông vải, màu chàm, sắt, trà, sáp ong, ngà voi, nhựa gôm guýt, vét-ni, các thứ cây, chỉ thôm, gạo khô, cây để kiến trúc, v.v. Tóm lại, kiến lập một cơ sở Pháp ở Nam kỳ sẽ là phương hướng chắc chắn của ta để trừ bì ảnh hưởng lớn lao của Ảnglê trong toàn các thuộc địa phủ Ân Độ . Số tiền người ta xuất ra để kiến lập, dù sao cũng là một việc bỏ vốn thâu lợi thật nhiều cho ảnh hưởng chính trị và thương mại mà nước Pháp sẽ hưởng trong thời gian ngắn ngủi tới 4 .
« Vua Nam Kỳ » và vua xứ Pháp liền ký tờ hiệp ước tương trợ ngày 28 tháng 11 năm 1787 ở thành Vetsâydơ: Pháp giúp binh thì vua Nam Kỳ phải nhượng lại cho Pháp hải cảng chính ở Hội An (Đà Nẵng), đảo Pulô Côngđo
VIỆT NAM 1920-1945
(Côn Nôn) Pháp làm chủ, thần dân của « đức vua tận tâm theo Thiên Chúa Giáo được tự do hoàn toàn về thương mại trong các lãnh thổ của đức Vua Nam Kỳ, trừ tuyệt toàn cả các nước Âu Châu khác. Người Pháp có thể gây dựng được những cơ sở họ xem là nhu cần cho việc hàng hải và thương mại của họ, cùng là để bồi bổ và đóng tầu.» 5
Thế thì giám mục Bá Đa Lộc là người tiên phong của giai cấp tư sản Pháp trong công cuộc xâm chiếm thuộc địa. Sự nghiệp này đã được phóng đại vào thời Đệ nhị Đế quốc (1852-1870) và nhất là trong thời kỳ Đệ tam Cộng Hòa


