Sa-lô-môn và Bài Học cho Chúng Ta
Sa-lô-môn và Bài Học cho Chúng Ta
Chớ chi họ khôn ngoan và hiểu được. Ước gì nghĩ đến sự cuối cùng vẫn đợi họ! Phục truyền luật lệ ký 32:29
Dù cho Đa-vít đã kiêng ăn và cầu nguyện, nhưng đứa trẻ sanh ra từ mối quan hệ ngoại tình giữa ông và Bát-sê-ba chỉ có thể sống được một tuần và không có tên. Tuy nhiên, đứa con thứ hai mà Bát-sê-ba sanh cho Đa-vít được đặt hai tên. Cha mẹ đặt cho đứa trẻ tên Sa-lô-môn, nghĩa là “bình an,” còn Đức Chúa Trời đặt tên Giê-đi-đia, nghĩa là “Đức Giê-hô-va yêu mến.” (Tên Đa-vít nghĩa là “được yêu mến). Hiển nhiên ngay từ đầu Đức Chúa Trời đã đặc biệt yêu thương Sa-lô-môn và Ngài ban cho ông những nhiệm vụ đặc biệt. Sau vấp phạm đầy đau thương của mình, Đa-vít hạnh phúc vì một lần nữa Đức Chúa Trời khẳng định tình yêu thương của Ngài đối với ông.
- S. Eliot đã mở đầu bài thơ “Chân dung một quý cô” bằng câu thơ “Khởi đầu không biết được kết thúc,” và điều này đặc biệt đúng với Sa-lô-môn. Nếu trên đời này có một người được sinh ra với đầy đủ mọi đặc quyền đặc lợi và có đầy đủ mọi ân tứ tốt đẹp nhất của Đức Chúa Trời thì đấy chính là Sa-lô-môn. Ông đã khởi đầu đầy hứa hẹn khi còn trẻ nhưng kết thúc khác xa với những gì ông đã bắt đầu. Clarence McCartney, một Mục sư Mỹ, đã nói rằng: “Sa-lô-môn có thể được mô tả là một người ngu muội khôn ngoan nhất (the wisest fool) trong Kinh Thánh.” Điều này nghĩa là Sa-lô-môn chưa từng thật sự tiến bộ trong trường đời nhưng cứ học lại cùng một lớp – một người “ngu muội khôn ngoan.”
Hãy cùng xem xét bốn bức chân dung về Sa-lô-môn, mỗi một hình ảnh thể hiện một giai đoạn trong cuộc đời của ông và dạy cho chúng ta một bài học quan trọng.
CON NGƯỜI THUỘC LINH, HẦU VIỆC ĐỨC CHÚA TRỜI
Những năm đầu của Sa-lô-môn đem đến điều tốt đẹp cho dân sự và dâng vinh quang về Đức Chúa Trời, mặc dù triều đại của ông đã bắt đầu với những mưu đồ và đổ máu trong cung. Đa-vít gần qua đời, mọi người đều biết Đức Chúa Trời đã lựa chọn Sa-lô-môn làm vị vua tiếp theo, tuy nhiên A-đô-ni-gia thách thức vua cha cùng người anh cùng cha khác mẹ của mình và tuyên bố chính ông là vua. A-đô-ni-gia phải trả giá bằng cái chết, và đại tướng Giô-áp, tòng phạm, cũng chung số phận. Tên Sa-lô-môn nghĩa là “bình an,” nhưng ông biết phải giải quyết những kẻ phá rối như thế nào. Có lẽ Sa-lô-môn đã chứng kiến hậu quả đau buồn của sự khoan dung mà Đa-vít dành cho Am-nôn và Áp-sa-lôn và cương quyết phải hành động một cách ngay thẳng nhưng dứt khoát. Trong những năm đầu trị vì, Sa-lô-môn không chịu nhượng bộ để được hòa bình bằng bất cứ giá nào.
Chúng ta cảm thấy ấn tượng với lời cầu xin đầy khiêm nhường của Sa-lô-môn rằng Đức Chúa Trời ban cho ông sự khôn ngoan để lãnh đạo đất nước. Chúng ta cũng cảm thấy ấn tượng với lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời khi ban cho Sa-lô-môn cả sự khôn ngoan mà ông cầu xin lẫn những điều mà con người bình thường khác đều mong muốn. Đây chính là minh họa trong Cựu Ước cho câu Kinh Thánh Ma-thi-ơ 6:33, “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.” Vào lúc này, Sa-lô-môn đã đặt đúng thứ tự ưu tiên.
Sa-lô-môn là một hình mẫu tốt cho dân sự. Ông trung tín vâng giữ sự thờ phượng mà Môi-se đã thiết lập và mỗi năm đều giữ Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ tuần và Lễ Đền Tạm (1 Các vua 9:25; Xuất. 23:14-17) và dùng chính sự giàu có của mình để cung cấp hàng ngàn của hiến tế cho các lễ lớn của quốc gia. Nói tóm lại, ông chứng tỏ là một con người thuộc linh.
Đức Chúa Trời đã hai lần hiện ra cho Sa-lô-môn (1 Các vua 3:5 và 9:2) và “Giê-hô-va Đức Chúa Trời người ở cùng Sa-lô-môn, và làm cho người rất thạnh vượng” (2 Sử ký 1:1). Nhà vua phải tự chép một bản sao sách Luật pháp cho riêng mình – có lẽ là sách Phục truyền luật lệ ký – và suy ngẫm luật pháp ấy (Phục 17:14-20). Chắn hẳn Sa-lô-môn đã vâng theo lời dạy này, bởi vì khi đọc lời cầu nguyện của ông tại lễ cung hiến đền thờ (1 Các vua 8), chúng ta có thể nói rằng Sa-lô-môn quen thuộc với các giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Y-sơ-ra-ên. Thật đáng buồn khi về sau, ông dần dần phớt lờ lời Lời Chúa đến mức hoàn toàn không vâng phục Ngài.
Năm thứ tư trị vì, Sa-lô-môn bắt đầu xây dựng đền thờ, một công việc cần đến 200.000 nhân công và mất bảy năm để hoàn thành. Đa-vít đã chuẩn bị bản thiết kế xây dựng, vật tư và tài chính, vì thế Sa-lô-môn không phải lập chiến dịch gây quỹ. Trong ngân khố đã có 3.750 tấn vàng, 37.500 tấn bạc, ngoài ra còn có kim loại, gỗ và đá với giá trị không thể tính hết được. Công nhân không phải là người Y-sơ-ra-ên sẽ phải làm công việc nặng nhọc, nhưng vua gọi 30.000 người nam Do Thái đến Li Băng để chặt cây, cứ ba tháng thực hiện công việc một lần. Đây là một cái giá rất đắt mà dân sự phải trả, nhưng công tác này là vì Đức Chúa Trời và vì Đa-vít. Sau khi Sa-lô-môn qua đời, dân sự đã than phiền về công tác nặng nhọc này với vua Rô-bô-am, song vị vua mới không thấu hiểu (1 Các vua 12:1-10).
CON NGƯỜI THẾ TỤC, BẮT CHƯỚC THẾ GIAN
Sa-lô-môn là người có nhiều sở thích. Ông rất quan tâm đến sự khôn ngoan – có lẽ ngày nay chúng ta sẽ gọi là nó là “triết học”. Trong đời của mình, Sa-lô-môn đã viết 3.000 câu châm ngôn. Ông là một nhạc sĩ và đã sáng tác hơn một nghìn bài hát. Với đầy am hiểu về thực vật học, sinh vật học và động vật học, Sa-lô-môn được những khách phương xa tìm đến để đặt cho ông những câu hỏi. Riêng việc trả lời cho những câu hỏi trên cũng đủ khiến Sa-lô-môn trở thành một người dẫn chương trình truyền hình trực tiếp tài năng.
Khi đền thờ được hoàn thành, Sa-lô-môn lao ngay vào kế hoạch mở rộng khiến cho dân chúng không kịp thở – và gần như khánh kiệt. Ông đã dành bảy năm để xây dựng đền thờ; và giờ đây dành mười ba năm để xây một khu phức hợp ba tầng có tên là “Cung rừng Li-ban” (1 Các vua 7:2-5). Cung này bao gồm hoàng cung, một hậu cung cho người vợ Ai Cập, một nơi đặt ngai vua, và “hiên cửa có trụ.” Cung điện nằm giữa “khoảng sân lớn” gắn liền với khoảng sân chung quanh đền thờ. Vì thế khi dân sự đến thành Giê-ru-sa-lem, họ sẽ không biết kiến trúc nào hoành tráng hơn, là đền thờ của Đức Chúa Trời hay là “Cung rừng Li-ban.”
Sa-lô-môn cũng tham gia vào lĩnh vực xuất nhập khẩu. Ông lập một đội tàu biển và tuyển dụng những thủy thủ có kinh nghiệm từ các quốc gia khác (vì người Do Thái không nổi tiếng về tài đi biển) và sai họ đi đến những vùng đất xa xôi để bán những sản vật của Y-sơ-ra-ên và mua những hàng hóa ở nước ngoài về lại. Sa-lô-môn lập khế ước với các quốc gia khác để được nhập khẩu hàng hóa của họ, nhờ vậy, nhà vua và đất nước rất được thịnh vượng.
Dĩ nhiên, các công việc kinh doanh đắt đỏ này cần được bảo vệ, chính vì thế Sa-lô-môn xây dựng một đội quân thường trực, củng cố tường thành Giê-ru-sa-lem và xây dựng công sự tại Hát-so, Mê-ghi-đô, và Ghê-xe, đảm bảo biên giới quốc gia được bảo vệ an toàn. Làm trái lời Chúa đã truyền trong Phục truyền luật lệ ký 17:16-17, nhà vua đã nhập khẩu các xe ngựa và ngựa từ Ai Cập (ông đã quên lời cha mình đã viết trong Thi thiên 20:7; 33:16-17) và lấy bảy trăm phi tần là những người có “nguồn gốc hoàng tộc,” trong số đó có con gái của Pha-ra-ôn. Ông cũng có ba trăm nàng hầu. Sa-lô-môn cũng bắt chước các vua dân ngoại là những người cho rằng càng có nhiều phi tần thì càng chứng minh sự giàu có và tôn trọng. Trong số các cung phi, nhiều người chỉ có ý nghĩa đảm bảo cho các hiệp ước mà Sa-lô-môn thiết lập với các vua nước khác, đảm bảo sự hòa bình và hợp tác giữa các nước khác và Y-sơ-ra-ên. Dù gì đi nữa, cha vợ của bạn sẽ không tuyên bố chiến tranh hoặc ngăn chặn con đường giao thương với nước của bạn nếu như con gái của ông ấy đang được bạn che chở. Tuy nhiên, theo giới răn của Chúa, người Y-sơ-ra-ên không được kết thông gia với các nước khác, và đây chính là căn nguyên đẩy Sa-lô-môn đến sự sụp đổ.
Bên cạnh những thành tựu đắt giá của Sa-lô-môn, chúng ta có thể thấy lượng thực phẩm khổng lồ mà cung điện của ông tiêu thụ hằng ngày (1 Các vua 4:22-28), tất cả chỉ có một từ để tả – xa hoa. Dĩ nhiên, khi bạn có một trăm bà vợ ở trong nhà, cộng với nhân viên và tùy tùng, bạn sẽ phải cần rất nhiều lương thực. Nhà vua đã lấy lương thực từ đâu? Sa-lô-môn vẽ ra một tấm bản đồ mới và chia thành mười hai huyện, mỗi một huyện cung cấp thức ăn cho một tháng (bao gồm thức ăn cho đàn ngựa của Sa-lô-môn.) Ông cũng đánh thuế người dân cách nặng nề (xem 1 Các vua 4:7; 12:1-19) và hằng năm tiếp nhận các vật triều cống từ các vua lân bang, những vùng đất mà Đa-vít, cha của ông đã chinh phục.
Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên “ăn uống và vui chơi” (1 Các vua 4:20). Song không phải tất cả đều tốt lành, bởi vì sự hào nhoáng và quyến rũ bên ngoài chỉ có thể che đậy sự mục nát ở bên trong. Như Alexander Whyte đã nói: “Con sâu bí mật… đang gặm nhắm cây phủ việt mà Sa-lô-môn đang có.”Nhà thơ người Anh Oliver Goldsmith đã nói lên điều này rất xuất sắc trong bài thơ “Ngôi làng hiu quạnh” (The Deserted Village): Thủa hàn vi không nhiều cám dỗ Khi thịnh vượng, dễ đắm chìm. Dường như đất nước Y-sơ-ra-ên đang rất hùng cường, nhưng thực tế lại từ từ mục nát bởi vì họ không đặt Chúa lên trên hết.
Người Do Thái không được phép trở nên giống như các quốc gia khác, và Sa-lô


