Nutrition and Feed for Ri and Ri Crossbred Chickens
I. Thức ăn là yếu tố cơ bản trong chăn nuôi gà
Chăn nuôi gà cũng như chăn nuôi gia cầm, gia súc nói chung khi đã chọn được con giống tốt thì yếu tố cơ bản đảm bảo đạt năng suất cao và chăn nuôi có hiệu quả là thức ăn bởi vì chiếm đến 65-70% giá thành thịt, trứng. Hai yếu tố giống và thức ăn gắn chặt với nhau, khi có con giống tốt đồng thời phải cho ăn đủ số lượng và chất lượng thức ăn thì gà mới mau lớn, đẻ nhiều. Giống gà Ri, Ri pha có ưu điểm là tự tìm kiếm mồi, chống chịu thời tiết khi chăn thả, nhưng với phương thức chăn nuôi quảng canh của bà con nông dân ở nhiều vùng vẫn tồn tại là chỉ cho ăn thêm một ít cho nhớ bữa để gà về chuồng, thức ăn đơn điệu chỉ có ngô, thóc nên năng suất thịt trứng của gà rất thấp và giống bị thoái hoá dần. Những năm qua, công tác khuyến nông được tăng cường, bà con được phổ biến khoa học kỹ thuật, được cung ứng hỗ trợ giống, các vật tư kỹ thuật và nhu cầu thịt trứng tăng, nhất là ven đô thị có thị trường tiêu thụ thịt gà vườn chăn thả, bao nhiêu cũng thiếu. Vì vậy, các nông hộ đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật chọn giống tốt, cho ăn thức ăn tăng lên, mua hoặc tự chế thức ăn từ những loại nguyên liệu sãn có, phòng trị bệnh, tiêm chủng các loại vacxin v.v.. cho nên gà Ri có tốc độ tăng khá. Một số giống gà lông màu thả vườn năng suất cao của Pháp, Israel; Trung .Quốc v.v... nhập vào nước ta kèm theo quy trình công nghe chăn nuôi được phát triển và nuôi rộng rãi nhiều ở trang trại, nông hộ chăn nuôi có khả năng tốt trong đó sử dụng thức ăn chế biến hỗn hợp sãn để nuôi hoặc tự phối chế theo công thức với những nguyên liệu sãn có hoặc mua thêm thức ăn đậm đặc hiếm quý. Có thể nói là các nông hộ, trang trại đã đầu tư chăn nuôi kinh doanh gà, kể cả gà công nghiệp, gà vườn, chăn nuôi hàng hoá, không phải chỉ tự cung tự cấp, coi là nghề phụ nuôi thêm.
Thực tế cho thấy, các nông hộ, các trang trại muốn chăn nuôi tốt, có hiệu quả là phải "chăn nuôi thương mại" có nghĩa là ngoài phần tự túc cho gia đình không phải mua đắt, đồng thời có thịt, trứng đem bán. Như vậy cần đầu tư từ nhỏ đến lớn, dù ở quy mô nào cũng có thức ăn đủ số lượng và chất lượng, hoặc mua thức ăn sãn, hoặc tự phối chế nguyên liệu sãn có và mua thêm. Nuôi bằng thức ăn phối chế theo thực đơn cân đối các chất dinh dưỡng theo nhu cầu của các loại gà sẽ cho năng suất cao và tiết kiệm thức ăn. ở phu~lllg thức nuôi gà Ri chăn thả có khác nuôi nhốt là cho ăn thêm số lượng ít hơn do có phần gà tìm mồi ở vườn tược đồng bãi, nhưng cho thêm thức ăn pha trộn hỗn hợp nhiều loại thì tốt hơn chỉ cho gà ăn hạt ngũ cốc: ngô, thóc... và sắn, khoai. Tuỳ lượng mồi tìm kiếm được, hàng ngày cần cho gà Ri mà cho ăn thêm 20-50 g/con (vấn đề này sẽ nêu cụ thể ở phần tiêu chuẩn khẩu phần).
II. Các chất dinh dưỡng và nhu cầu cho gà
Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn động vật, thực vật gom có: Vật chất không chứa ni tơ (azot), protein, lipid, cellulose (xơ), khoáng, vitamin.
1. Protein
Protein được cấu tạo từ các axit amin. Protein thô gồm các vật chất chứa azot (N), trong đó gồm N-protid và N-phi protid. Protid luôn luôn có N - chất dinh dưỡng đặc trưng quan trọng nhất và có các chất cacbon, hydro, oxy tạo thành hợp chất hữu cơ, còn có lưu huỳnh, phospho và một số nguyên tố vi lượng khoáng mà ở các phân tử lipid, bột đường không có.
Protein tham gia cấu tạo tế bào là thành phần quan trọng của sự sống, chiếm đến khoảng 1/5 khối lượng cơ thể gà, 1/7-1/8 khối lượng trứng.
Sản phẩm thịt, trong, tế bào trứng, tinh trùng đều cấu tạo từ protid. Không đủ protein thức ăn thì năng suất trứng, thít giảm. Protid tham gia cấu tạo các men sinh học, các hoocmon làm chức năng xúc tác, điều hoà quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng trong cơ thể động vật. Protein cung cấp năng lượng cho cơ thể.
Tỷ lệ protein thô trong khẩu phần thức ăn gà con 0-4 tuần tuổi là 22-24%, gà 5 -8 tuần tuổi 21-22%, gà dò 19-21%; gà nuôi thịt thì cao hơn tỷ lệ này l-2%; gà đẻ giai đoạn đầu 17-18%, giai đoạn sau 15-16%, thời kỳ cuối 13-14%. Axit amin gồm 2 nhóm: Axit amin không thay thế và axit amin thay thế.
a) Nhóm không thay thế hay là axit amin thiết yếu, trong cơ thể động vật không tổng hợp được, phải từ nguồn thức ăn cung cấp cho cơ thể gà.
Nhóm này gồm 10 loại: Arginin, histidin, leucin, isoleucin, phenylalanin, valin, treo nin, lyzin, methionin, tryptophan, còn glycin rất cần cho gà dò, không quan trọng trong thức ăn gà lớn. .
- Lyzin là axit amin quan trọng nhất cho sinh trưởng, sinh sản đẻ trứng, cần cho tổng hợp nucleoproteid, hồng cầu, trao đổi azot, tạo sắc tố melamn ở lông, da. Không đủ lizin làm gà chậm lớn, giảm năng suất thịt, trứng; giảm hồng cầu, giảm tốc độ chuyển hoá canxi, phospho, gây còi xương, cơ thoái hoá, sinh dục rối loạn. Loại nguyên liệu có tỷ lệ lyzin nhiều: Bột cá 8,9%, sữa khô 7,9%, men vi sinh 6,8%, khô đỗ tương 5,9% v.v...; loại ít lyzin có ngô, gạo, khô lạc v.v... 2,9-3,4%. L-lyzin tổng hợp từ vi sinh vật được sử dụng bổ sung vào khẩu phần ăn khi dự phòng thiếu lyzin hoặc để giảm nguồn thức ăn động vật. Tỷ lệ lyzin trong thức ăn gà thịt 1,1- 1,2%, gà đẻ 0,75-0,85 %.
- Methionin là một axit amin quan trọng có chứa lưu huỳnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của cơ thể, chức năng gan, thận, điều hoà trao đổi lipid (chất béo), chống mỡ hoá gan, cần thiết cho sự sinh sản tế bào, tham gia quá trình đồng hoá, dị hoá trong cơ thể. Không đủ methionin trong khẩu phần, gà mất tính thèm ăn nên ăn ít dẫn đến thiếu máu, cơ thoái hoá, gan nhiễm mỡ, giảm sự phân huỷ chất độc thải ra, hạn chế tổng hợp hemoglobin. Các nguyên liệu bột cá, sữa khô tách bơ, khô dầu hạt hướng dương có nhiều methionin (2,4-3,2%); các loại hạt ngu cốc ít methionin. Tỷ lệ methionin trong thức ăn gà con 0-2 tuần tuổi 0,38- 0,4%, gà 3-7 tuần tuổi 0,35%, gà đẻ 0,38-0,4%.
- Arginin cần cho sinh trưởng của gà con, tạo sụn xương, lông. Thiếu arginin trong khẩu phần tỷ lệ chết phôi cao trong ấp nở, sức phát triển của gà giảm. Tỷ lệ arginin trong thức ăn gà broiler (gà thịt) 0-5 tuần tuổi I ,10%, 5-8 tuần tuổi 1,02%, gà đẻ 0,95%.
- Leucin duy trì hoạt động của tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp protid của plasma. Leucin bị thiếu làm phá huỷ sự cân bằng azot, giảm tính thèm ăn và gà, chậm lớn. Tỷ lệ leucin trong thức ăn gà broiler 1,1 - 1,2% , gà đẻ 1,2%.
- Isolẹucin thường có đủ trong thức ăn, cần cho trao đổi và cơ thể sử dụng các axit amin. Thiếu Isoleucin gà ăn kém ngon miệng, cản trở sự phân huỷ các vật chất chứa azot thừa trong thức ăn thải qua nước tiểu, tăng trọng giảm. Tỷ lệ Isoleucin trong thức ăn gà broiler là 0,85%, gà đẻ 0,75%.
- Histidin cần thiết cho tổng hợp lucleotid và hemoglobin, điều chỉnh quá trình trao đổi chất, nhất là cho sinh trưởng của gà con, gà dò. Không đủ histidin trong thức ăn gây thiếu máu, giảm tính thèm ăn, gà chậm lớn. Tỷ lệ histidin trong thức ăn gà broiler 0,30-0,35%, gà đẻ 0,22%.
- Tryptophan cần cho sự phát triển của gà co~n, gà dò, duy trì sức sống cho gà lớn, tham gia tổng hợp hemoglobin trong máu, điều hoà chức năng các tuyến nội tiết, cần cho sự phát triển của tinh trùng, phôi. Thiếu tryptophan làm giảm tỷ lệ ấp nở, tuyến nội tiết bị phá huỷ, giảm khối lượng cơ thể. Các loại hạt ngũ cốc, khô dầu đậu có nhiều tryptophan.
- Treo nin cần cho trao đổi và sử dụng đầy đủ các axit amin trong thức ăn, kích thích sự phát triển của gia cầm non. Treonin bị thiếu gây sự thải azot (nhận được từ thức ăn) theo nước tiểu, giảm khối lượng sống. Nguyên liệu thức ăn từ động vật có đủ treonin cho gà, cho gia cầm. Tỷ lệ treonin trong thức ăn gà broiler 0,52%, gà đẻ 0,50%.
- Valin cần cho hệ thần kinh hoạt động, tham gia tạo glucogen từ gluco. Trong thức ăn gia cầm thường có đủ valin. Tỷ lệ valin trong thức ăn gà broiler 0,65%, gà đẻ 0,55%.
- Phenylalanin tham gia duy trì hoạt động của tuyến thượng thận, tuyến giáp, tham gia tạo sắc tố và độ thành thục của tinh trùng, sự phát triển của phôi trứng. Tỷ lệ phenylalanin trong thức ăn gà broiler 0,55%, gà đẻ 0,4%.
b) Nhóm axit amin thay thế gồm các loại alanin, aspaginin, cystin, aspartic, glycin, axit glutamic, hydroprolin, se rin, prolin, tyrozin, citrulin, cystein và hydroxylizin. Cơ thể gia cầm, gà có thể tự tổng hợp được các loại axit amin thay thế này từ sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi axit amin, axit béo và từ hợp chất chứa nhóm amino.
2. Năng lượng
Các chất hữu cơ trong thức ăn lipid, hydratcarbon (bột đường), protein cung cấp nguồn năng lượng cho cơ thể gia súc, gia cầm duy trì thân nhiệt, hoạt động sống, sinh trưởng, sinh sản đẻ con, đẻ trứng... Số năng lượng dư thừa được dự trữ tích thành mỡ mà không bị thải ra ngoài là đặc điểm đặc biệt của vật chất chứa năng lượng. Năng lượng có vai trò ảnh hưởng quyết định đến sử dụng các vật chất dinh dưỡng trong thức ăn.
Các dạng gồm: Năng lượng tổng số, năng lượng thuần, năng lượng tiêu hoá, năng lượng trao đổi. Thức ăn gia cầm biểu thị đơn vị năng lượng trao đổi vì khi xác định năng lượng trong phân thì đã bao gồm cả năng lượng nước tiểu, việc tách axit uric để xác định năng lượng của nó rất tốn kém và không cần thiết.
Năng lượng trao đổi được biểu thị bằng kilocalo - Kcal. Đốt cháy hoàn toàn "bom" dụng cụ đốt) một loại thức ăn hữu cơ sẽ giải phóng năng lượng tổng số nhất định: 1g glucid cho 4,1 Kcal; 1g protein cho 5,65 Kcal; 1g lipid cho 9,3 Kcal.
Số lượng thức ăn hàng ngày gia cầm, gà thu nhận có tỷ lệ nghịch


