Chỉ đạo biên soạn và Vùng đất con người Lâm Đồng
Chỉ đạo biên soạn
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG
Ban chỉ đạo
LÊ THANH PHONG
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy - Trưởng ban.
KHUẤT MINH PHƯƠNG
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - Phó ban.
TRƯƠNG VĂN THU
Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Ủy viên.
TRẦN DUY VIỆT
Tỉnh ủy viên, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy - Ủy viên
NGUYỄN VĂN YÊN
Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính - Ủy viên
NGUYỄN THỊ MỸ CÔNG
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy - ủy viên.
Biên soạn, chỉnh lý
NGUYỄN VĂN HƯƠNG
NGUYỄN SĨ HIỀN
NGÔ XUÂN TRƯỜNG
Phần mở đầu
VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI LÂM ĐỒNG
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên, nằm giữa các toạ độ: 11˚12’- 12˚15’ vĩ độ bắc và 107˚45’ kinh độ đông, có diện tích 9.764,8km² chiếm khoảng 2,9% diện tích cả nước. Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận; phía tây giáp tỉnh Bình Phước; phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía nam- đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bố khá rõ ràng từ bắc xuống nam. Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1300m đến hơn 2000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m). Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500- 1000m). Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh- Bảo Lộc và bán bình nguyên có độ cao 100- 300m.
Lâm Đồng có diện tích đất chiếm 98% diện tích tự nhiên, tương đương 965.969 ha, bao gồm 8 nhóm đất trong đó có 2 nhóm chiếm diện tích tương đối lớn là đất xám (659.648 ha) và đất đỏ bazan (212.309 ha). Các loại đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.
Trong tổng số diện tích đất tự nhiên của tỉnh, diện tích đất rừng chiếm trên 60%, bao gồm rừng tự nhiên (rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng hỗn giao) và rừng trồng. Lâm Đồng là một trong những tỉnh có hệ thực vật phong phú nhất ở Việt Nam với trên 2000 loài, trong đó có 20 loài cây quý thuộc 18 chi, 14 họ và 4 ngành. Đa số các loài cây quý hiếm như thông 2 lá dẹt, thông đỏ, bạch linh phân bố ở vùng sâu, vùng xa. Hệ động vật có 128 họ thuộc 38 bộ bao gồm các nhóm côn trùng, lưỡng thê, bò sát, chim và thú. Có một số loài đặc biệt quý hiếm và là một trong số rất ít nơi được coi là còn những cá thể cuối cùng của tê giác Java, bò xám, nai cà tong ở Việt Nam.
Bên cạnh tài nguyên rừng, Lâm Đồng là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản. Đến nay đã phát hiện được 165 điểm khoáng sản, trong đó có 23 mỏ lớn, 3 mỏ vừa, 48 mỏ nhỏ và 91 điểm quặng. Các mỏ và điểm quặng được chia thành 7 nhóm: than, kim loại, không kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, di thường phóng xạ, nước khoáng và nóng.
Là tỉnh có địa hình phức tạp và độ nghiêng lớn từ tây bắc xuống đông nam nên khí hậu Lâm Đồng có sự khác biệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình trong năm giao động từ 16˚ đến 23˚C, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm ở từng khu vực không nhiều. Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu ở Lâm Đồng có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa hàng năm phân bố không đều theo không gian và thời gian, giao động từ 1600- 2700mm.
Hệ thống sông, suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, có lưu vực nhỏ và nhiều ghềnh, thác ở thượng nguồn. Các sông lớn trong tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Ngoài nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, Hàm Thuận- Đạ Mi, các nhà máy thuỷ điện Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3 đang được xây dựng sẽ cung cấp sản lượng rất lớn cho hệ thống điện quốc gia. Mặt khác, do địa hình phức tạp nên Lâm Đồng còn có nhiều hồ nước nhân tạo phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau: cung cấp nước cho các nhà máy thuỷ điện; cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và những thắng cảnh nổi tiếng.
Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và khí hậu ôn hoà nên Lâm Đồng còn có lợi thế về du lịch. Nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Hồ Đa Thiện, Khu du lịch Tuyền Lâm, Thác Prenn, Thác Đatanla (Đà Lạt), Khu du lịch Đankia- Suối vàng, Núi Bà (Lạc Dương), Thác Gougáh, Thác Pongour (Đức Trọng), Thác Voi (Lâm Hà), Thác Da Mbri (Bảo Lộc)… là những điểm du lịch nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.
Về hành chính
Cuối thế kỷ XIX vùng đất tỉnh Lâm Đồng hiện nay thuộc hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Năm 1893, bác sĩ Yersin phát hiện ra cao nguyên Lang Bian, đặt nền móng cho việc hình thành thành phố Đà Lạt sau này.
Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm hành chính ở Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Bian. Năm Thành Thái thứ XVII (1905), bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, trực thuộc lại tỉnh Bình Thuận.
Ngày 6 tháng 1 năm 1916, Toàn quyền E. Roume ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian bao gồm toàn bộ vùng rừng núi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước hiện nay. Địa giới tỉnh Lang Bian gồm: phía bắc giáp sông Krông Knô, phía đông nam giáp sông Krông Pha (nay thuộc tỉnh Ninh Thuận), phía nam giáp sông Ca Giây một nhánh sông Phan Rí (nay thuộc tỉnh Bình Thuận), phía tây giáp biên giới Cam- pu- chia [1].
Ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội đồng nhiếp chính vua Duy Tân ra Dụ thành lập tại vùng Lang Bian trung tâm đô thị Đà Lạt. Chiếu dụ ngày 20 tháng 4 năm 1916, ngày 30 tháng 5 năm 1916, Khâm sứ J.E. Charles kýý Nghị định thành lập trung tâm đô thị Đà Lạt.
Chiếu dụ ngày 11 tháng 10 năm 1920, ngày 31 tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Long ký Nghị định thành lập thị xã Đà Lạt [2]. Thị xã Đà Lạt là thị xã loại hai gồm có vùng nội ô và ngoại ô. Vùng ngoại ô gồm các làng mạc và đất đai nằm trên cao nguyên Lang Bian.
Phần đất còn lại của tỉnh Lang Bian mang tên tỉnh Đồng Nai Thượng gồm có 3 quận: B’lao, Djiring (Di Linh) và Dran.
Ngày 8 tháng 1 năm 1941, Toàn quyền Decoux ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian, thị trưởng Đà Lạt kiêm Tỉnh trưởng tỉnh Lang Bian.
Tháng 8 năm 1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời và Mặt trận Việt Minh tỉnh Lâm Viên và tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập.
Ngày 14 tháng 12 năm 1950, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ Nguyễn Duy Trinh ký Quyết định đề nghị sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 22 tháng 2 năm1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành Nghị định số 73-TTg hợp nhất 2 tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 19 tháng 5 năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Nghị định số 170-NV đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng và Sắc lệnh số 26-NV thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm có 2 quận B’lao, Di Linh, dời tỉnh lị từ Di Linh xuống B’lao (ngày 19 tháng 2 năm 1959 đổi tên thành Bảo Lộc). Tỉnh Tuyên Đức có 3 quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương, tỉnh lị đặt tại Đà Lạt. Riêng Đà lạt là đô thị trực thuộc Trung ương và sau này sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức trở thành một đơn vị hành chính: Đà Lạt- Tuyên Đức.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định Đà Lạt là thành phố trực thuộc Trung ương; sáp nhập các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận thành tỉnh Thuận Lâm, tỉnh lị đặt tại Phan Rang. Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định điều chỉnh lại việc hợp nhất một số tỉnh từ khu VI trở vào thành những tỉnh mới.
Tháng 2 năm 1976, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 14 tháng 3 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 116-CP chia huyện Bảo Lộc thành 2 huyện: Bảo Lộc, Đạ Huoai; chia huyện Đơn Dương thành 2 huyện: Đơn Dương, Lạc Dương.
Ngày 6 tháng 6 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 68-HĐBT chia huyện Đạ Huoai thành 3 huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.
Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 157- HĐBT sáp nhập vùng kinh tế mới Hà Nội vào huyện Đức Trọng, chia huyện Đức Trọng thành 2 huyện: Đức Trọng, Lâm Hà.
Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ ra Quyết định số 65-CP chia huyện Bảo Lộc thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.
Ngày 17 tháng 11 năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 189/2004/NĐ-CP thành lập huyện Đam Rông.
Đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 tỉnh Lâm Đồng có thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và 10 huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Di Linh, Bả


