Phát Hiện Mới Về Đình An Khánh
Phát Hiện Mới Về Đình An Khánh
Lâm Hoài Phương
TT Dịch Thuật Hán Nôm
Viện Lịch Sử dòng họ
Tóm tắt:
Từ trước tới nay các phương tiện truyền thông khi đề cập đến Đình An Khánh, tọa lạc tại Phường Thủ Thiêm, T. P Thủ Đức, T.P. HCM, đều cho rằng đình đã có từ 200-300 năm trước, lại có sắc phong của vua Tự Đức ban cho. Họ căn cứ vào sách của PGS.TS Tôn Nữ Quỳnh Trân (2010) Thủ Thiêm – quá khứ và tương lai , NXB Tổng Hợp TP.HCM, nhưng Sách này lại trích dẫn từ các bài báo xuân Quận 2 của tác giả Hải Đường viết năm 1998, 2000.
Nhân sự kiện đình được xây dựng lại năm 2023 , chúng tôi có tiếp xúc với Trung Tâm Bảo tồn di tích TP HCM và được T.T. cung cấp hinh ảnh, tư liệu hiện vật của đình, chúng tôi cũng trực tiếp đến đình xác minh. Thông qua các văn tự Hán Nôm trên các hiện vật chúng tôi đã phát hiện những điều mới sau :
- Đình chỉ được lập khoảng năm 1918.
- Đình không có sắc phong dưới thời Vua Tự Đức
- Chủ nhân ngôi mộ, tức ngôi mộ Ông thần thành Hoàng của đình, nằm trong khuôn viên đình trước khi di dời là Ông Trần Tri.
- Hành trạng của Ông Trần Tri dưới thời triều Nguyễn.
A Dẫn nhập
Nhân sự kiện Đình An Khánh được phục dựng tại khu đất mới vào tháng 5 năm 2023 , trên các hệ thống truyền thông chúng ta thấy các tiêu đề như:
- Đình An Khánh 300 tuổi trở về “bán đảo” Thủ Thiêm ,
- Đình được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 (1679 đến 1725) là một trong số các đình làng cổ nhất tại Sài gòn Gia Định xưa.
- Đình có một sắc phong trên một mảnh lụa.do vua Tự Đức phong năm 1832 với nội dung “ Bình Dương huyện, Gia Định tỉnh, Tân Bình phủ, Bình Trị tổng, An Lợi xã, Trần Thống quân Hà Quảng Thống sư, danh lộc tri thủy bộ chi thần, tước sắc Thần hoàng bổn cảnh ” .(tr.87)
Phần dịch :”Vị thần họ Trần, thống soái đạo quân Hà – Quảng ( Hà Tỉnh -Quảng Bình , chỉ huy cơ doanh Lộc tri thủy bộ xã An Lợi, tổng Bình Trị Trung, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định được sắc vua ban cho tước vị Thần hoàng bổn cảnh”
- Hai bức hoành phi do Mộc Ân các chủ đò cúng năm 1858(tr.87)
Các nội dung trên được tác giả Hải Đường viết trên báo Quận 2 xuân 1998 tr.9 và bài “ Ngày xuân du khảo những chứng tích lịch sử quý hiếm ở quận 2” báo Xuân quận 2 năm 2000 tr.27 . Sau đó PGS.TS Tôn Nữ Quỳnh Trân đã cẩn trọng trích lại trong sách Thủ Thiêm – quá khứ và tương lai , (NXB Tổng Hợp TP.HCM năm 2010).
Còn có một bài báo ngày 24-09-2012 viết : Ông Thọ, thủ từ đời thứ 5 nói :“Đình thờ thành hoàng là Hà Quãng Thống sư, một vị tướng dũng mãnh. Trong đình còn giữ lại sắc phong. Năm 1852 triều Nguyễn có sắc phong cho thần Thành Hoàng là Quãng hậu chánh trực hữu thiện đôn trung/ngưng để nhân dân phụng thờ, “ do thần đã giúp nước, che chở nhân dân nhiều năm linh ứng”.Ông nói thêm : “Ban giải tỏa mặt bằng Thủ Thiêm đã ra quyết định giải tỏa đình An Khánh, chỉ bồi thường 380 triệu đồng tiền kiến trúc. Do không đền bù đất đai nên chúng tôi không biết dời đình đi đâu. Nhân ngày hội đình, nhân dân tụ hội rất đông, bèn quyết định đưa lên thành phố tấm sắc phong. Thế là thành phố rút lại lệnh giải tỏa đình An Khánh”.
Ông còn đưa ra văn bản ban hành ngày 14-5-2012 của Ban Quản lý xây dựng trung tâm triển lãm quy hoạch TP Hồ Chí Minh cho xem. Công văn khẩn viết: “Sau khi Ban quý tế đình thần có báo cáo với UBND quận 2 và Ban giải phóng mặt bằng về việc Đình Thần đã được sắc phong vào năm 1852, Ban giải phóng mặt bằng quận 2 đã rút lại quyết định bồi thường (3/2011) và đến nay chưa có phương án thực hiện tiếp theo”.
Sau đây chúng ta hãy xem xét những thông tin của ngôi đình nói trên đúng hay sai thông qua những tài liệu về địa dư và lịch sử.
B Các dữ kiện để xác minh về địa lý, lịch sử của đình
1. Lịch sử làng An Khánh:
Xã An Lợi
Dưới thời nhà Nguyễn, theo sách Gia Định thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, vị trí đình An Khánh xưa và nay thuộc thôn Bình Quới, tổng An Thủy Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa.
Vào triều Gia Long các thôn An Lợi, An Tài , Bình Quới (Quí) thuộc tổng An Thủy , huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa. Đó là năm (1818 – theo SG GĐ ký ức lịch sữ Văn Hóa – NNC Nguyễn ngọc Trảng, 2018 tr.39)
- Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) tổng An Thủy chia làm 4 tổng: thượng, trung, hạ, nam. Tổng An Thủy Thượng có 7 xã/thôn: An Lợi, An Tài, Bình Quới, Bình Khánh (mới lập) …và vẫn thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.
- Năm 1837 Huyện Ngãi An được thành lập, thôn Bình Quới đổi thành thôn Giai Quý.
- Sau khi Pháp vào chiếm đóng Gia Định (1859) đã đổi tên thôn An Lợi cũ thành An Lợi Đông , và thôn An Lợi Xã do xác nhập 2 thôn An Tài và Giai Quý .
- Từ 5-1-1876 Ba thôn An Lợi Xã, An Lợi Đông, Bình Khánh nhập về Gia Định
- Từ 1-1-1900 được gọi là làng thuộc tổng Bình trị Trung.
- Từ ngày 1-1-1917 tổng Bình Trị Trung giải thể .
- Từ ngày 1-1-1918, gọi là làng An Lợi Xã , thuộc tổng An Bình, quận Thủ Đức (mới lập), tỉnh Gia Định .
- Từ ngày1-1-1928 làng An Đông Xã được thành lập do xác nhập 2 làng An Lợi Đông và và An Lợi Xã.
- Ngày 9-12-1939 làng An Đông Xã nhập với làng Bình Khánhthành làng An Khánh
Làng Bình Khánh :
- Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) tổng An Thủy chia làm 4 tổng thượng, trung, hạ, nam. Tổng An Thủy Thượng có 7 xã, thôn bao gồm thôn An Lợi và thôn Bình Khánh (mới lập) và vẫn thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.
- Trải qua triều Thiệu Trị Tự Đức đến đầu Pháp thuộc đổi thuộc tổng Bình Trị Trung hạt thanh tra Sài Gòn, được sáp nhập với thôn Giai Quý , thôn Giai Quý giải thể
- Từ 5-1-1876 goi là làng thuộc hạt tham biện Sài Gòn, rồi Bình Hòa
- Từ 16-12-1885 thuộc hạt tham biện Gia Định
- Từ ngày 1-1-1900 thuộc tỉnh Gia Định
- Ngày 1-1-1918 lại thuộc tổng An Bình, quận Thủ Đức (mới lập), cùng tỉnh, vì tổng Bình Trị Trung giải thể..
2. Vị trí đình An Khánh
- Trước khi giải tỏa năm 2014: Đình cũ tọa lạc tại số 2/1 đường Lương Định Của , Phường An Khánh , quận 2, nay là TP Thủ Đức
- Sau khi xây lại năm 2023:Đình mới cách vị trí cũ vài chục mét và là một phần trong tổng thể công viên văn hóa trung tâm bên sông Sài Gòn của khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Đình sau khi giải tỏa khu dân cư năm 2014
Đình mới dựng năm 2023
3. Các hiện vật trong đình :
Chúng ta cần khảo sát thêm các ảnh chụp hiện vật quan trọng có liên quan về việc hình thành đình do T.T Bảo Tồn di tích TP HCM cung cấp, Ba bức hoành phi sơn son thếp vàng này là:
Hoành phi
- Hoành 1: 國安家慶
QUỐC AN GIA KHÁNH
Vì muốn có chữ An Khánh là tên đình nên người viết chọn câu “Quốc An Gia Khánh” [nhờ nước bình an mà gia đình được phúc], thay vì “Quốc Ân Gia Khánh” là câu thường dùng khi làm bức hoành với nghĩa : Nhờ ơn nước mà gia đình được phúc.
Lạc khoản: 龍飛戊午年仲夏吉立
Long phi mậu ngọ niên trọng hạ cát lập
(Lập vào ngày tốt tháng 5 năm mậu ngọ -1918)
恩安利蔓 弍第子同奉供
Mộc ân An Lợi man nhị đệ tử đồng phụng cung
(Ơn Phật, hai đệ tử vùng sông nước An Lợi cùng dâng cúng)
Giải thích các từ dùng trong lạc khoàn:
“ long phi” : dùng chữ “ Long Phi” để tránh né tên triều đại. Năm 1859 Pháp đánh chiếm Biên Hòa, từ đó về sau địa phương nằm dưới sự đô hộ của Pháp,
“ mậu ngọ” : có các năm …, 1858, 1918…Nếu bức hoành làm năm 1858 chắc chắn đã ghi “Tự Đức mậu ngọ niên trọng hạ cát lập “. Năm 1918 là năm dưới triều Vua Khải Định, nếu vùng đất Biên Hòa còn tự chủ đã ghi : “ Khải Định mậu ngọ niên trọng hạ cát lập”, nhưng thời điểm đó Pháp đô hộ vùng đất này nên phải ghi “ Long Phi mậu ngọ niên trọng hạ cát lập” .
“mộc ân” : 沐恩 có nghĩa là thấm nhuần ân đức.
Trước tiên hãy nói về từ ghép Ân Quang 恩 光. Đây là từ xuất hiện nhiều trong Tứ Thư & Ngũ Kinh. Nó chỉ cho ân đức của trời đất, ân điển của vua quan, ân nghĩa của cha mẹ v.v….Tuy nhiên, người đầu tiên sử dụng từ Mộc Ân Quang 沐 恩 光, có nghĩa là được tắm gội ân điển, có lẽ là Lưu Thiệu 劉 紹 đời nhà Nguyên. Trong tác phẩm Tống Truyện Nguyên Tông Quy Kim Xuyên 送 傅 元 宗 歸 金 川 có đoạn:
乃尔 念 丘 首, 西 還 沐 恩 光. ( Nãi Nhĩ Niệm Khâu Thủ, Tây Hoàn Mộc Ân Quang )
Tây Hoàn Mộc Ân Quang 西還沐恩光 nghĩa là: trở về phía Tây được tắm mình trong ân sủng. Về sau nhiều Nhà Văn

