Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật II Mùa Chay – năm A
Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật II Mùa Chay – năm A
Lời Chúa:St 12,1-4a; Tv 32; 2 Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9.
Các bài chú giải và suy niệm
- Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông
- Chú giải của Noel Quession: Đây là Con Yêu Dấu Ta
- Chú giải của Fiches Dominicales: Người Con Yêu Dấu
- Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: Biến hình
- Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm:Đức Giêsu biến đổi hình dạng
- Biến đổi theo thánh ý(Jos. Vinc. Ngọc Biển)
- Xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần(Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
- Vinh quang của Chúa Giêsu(Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)
- Nghe Lời Người(Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
- Biểu lộ chân dung(JM. Lam Thy ĐVD.)
- Cho đến khi Người từ cõi chết sống lại(P. Trần Đình Phan Tiến)
- Rực rỡ Ánh Sáng công chính(AM Trần Bình An)
- Mắt đức tin, mắt của trái tim(ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)
- Hành trình theo Chúa(Lm. Carolo Hồ Bạc Xái)
- Ơn gọi biến hình đổi dạng(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)
- Chúa hiển dung(R. Veriatas)
- Dõi bước theo Chúa(R. Veritas)
- “Bản tính khó dời”(Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
- Chúa Giêsu hiển dung(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)
- Vinh quang(Lm. Giuse Trần Việt Hùng)
- Đức Giêsu mạc khải vinh quang Phục sinh(Ban Mục vụ Thánh Kinh & Ban Phụng tự TGP Sài gòn)
- Mùa Chay đổi mới tâm hồn(Lm. Đan Vinh)
A. BẢN VĂN
Bài đọc I (St 12,1-4a)
1 Đức Chúa phán với ông Áp-ram : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. 2 Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. 3 Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.”4a Ông Áp-ram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông.
Bài đọc II (2 Tm 1,8b-10)
8b Anh yêu quý, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng. 9 Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Ki-tô Giê-su, 10 nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Ki-tô Giê-su đã xuất hiện. Chính Đức Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.
Tin Mừng (Mt 17,1-9)
1 Hôm ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.
9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”
B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM
Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông
Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật II Mùa Chay đều tường thuật biến cố Biến Hình. Biến cố nầy nhắc nhở cho người Kitô hữu thời gian Mùa Chay không chỉ được dự phần vào mầu nhiệm đau khổ và sự chết, nhưng cũng vào mầu nhiệm Phục Sinh vinh quang.
Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật II Mùa Chay đều tường thuật biến cố Biến Hình. Biến cố nầy nhắc nhở cho người Kitô hữu thời gian Mùa Chay không chỉ được dự phần vào mầu nhiệm đau khổ và sự chết, nhưng cũng vào mầu nhiệm Phục Sinh vinh quang. Đó cũng là bài học mà Bài Đọc I và Bài Đọc II nhắc nhở cho chúng ta.
St 12: 1-4
Bài đọc I, trích từ sách Sáng Thế là chuyện kể về ơn gọi của ông Áp-ra-ham. Vâng theo tiếng gọi mầu nhiệm, ông Áp-ra-ham rời bỏ quê hương và gia tộc của mình để đi đến một vùng đất xa lạ. Ông gắn bó với một Thiên Chúa duy nhất, Đấng ông đã đón nhận Lời Hứa tuyệt vời của Ngài.“Vì thế, do một con người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được”(Dt 11: 12).
2Tm 1: 8b-10
Viết cho Ti-mô-thê, người môn đệ thân yêu của mình đang trải qua thời gian thử thách, thánh Phao-lô nhắc nhở tính hiệu quả tâm linh của sự đau khổ: vì chỉ có đau khổ mới đảm bảo cho việc loan báo Tin Mừng sinh hoa kết trái thiêng liêng và dẫn chúng ta đến cuộc sống bất tử.
Mt 17: 1-9
Tin Mừng hôm nay là bài tường thuật về cuộc Biến Hình theo thánh Mát-thêu. Biến cố nầy được đặt trong văn mạch với việc Đức Giê-su lần đầu tiên tiên báo cuộc thương khó của Ngài (Mt 16: 21-23). Lời loan báo nầy đã gây nên cơn choáng váng đối với các môn đệ của Ngài. Vì thế, như một cách thức giải tỏa sự kỳ chướng của thập giá, Đức Giê-su đã đem ba môn đệ lên núi cao và ở đó Ngài thay đổi hình dạng trước mắt các ông để nói với các ông: Đau khổ và tử nạn là con đường cứu độ mà Ngài phải đi qua, nhưng đây không là một ngõ cụt mà là sự khai mào cho cuộc Phục Sinh vinh hiển. Vì thế, biến cố Biến Hình là một sự tham dự trước Phục Sinh vinh quang.
BÀI ĐỌC I (St 12 : 1-4)
Phần thứ nhất của sách Sáng Thế (ch. 1-11) gợi lên nguồn gốc thế giới và nhân loại. Phần thứ hai (ch. 12-50) tường thuật nguồn gốc dân Do thái và lịch sử các Tổ Phụ của họ. Bài đọc I, trích từ đoạn đầu phần thứ hai sách Sáng Thế, bao gồm ơn gọi, lời hứa và lời chúc phúc.
1. Ơn gọi (St 12: 1):
Khi ấy, Chúa phán với ông Áp-ra-ham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.”
Lời dẫn nhập nầy quy chiếu đến những sự kiện trước đó của chương 11. Ông Te-ra, cha của ông Áp-ra-ham, sống ở Ua, một thành phố lớn ở Hạ Lưỡng Hà Địa. Lúc đó, miền nầy chưa được gọi Can-đê (danh xưng nầy chỉ xuất hiện trong các bản văn vào thế kỷ XI BC), nhưng là Su-me trong đó thành Ua là một trong những chiếc nôi của nền văn minh Su-me rực rỡ nầy. Một ngày kia, ông Te-ra quyết định rời bỏ thành Ua, quê hương của mình, cùng với bộ tộc của mình“để đi tới đất Ca-na-an”(St 11: 31). Nhưng Ông Te-ra cùng bộ tộc của mình dừng lại ở Kha-ran phía bắc miền Lưỡng Hà Địa và định cư lập nghiệp ở đó. Nhưng ông Áp-ra-ham tiếp tục cuộc hành trình của mình về một vùng đất xa lạ. Phải chăng ông muốn thực hiện ước nguyện của cha ông khi rời bỏ thành Ua:“đi tới đất Ca-na-an”? Thật ra, ông Áp-ra-ham chỉ quyết định rời bỏ Kha-ran sau khi cha ông qua đời (x. Cv 7: 4)
Phải chăng khi rời bỏ Kha-ran để đi tới đất Ca-na-an, ông Áp-ra-ham vâng theo một sự thôi thúc nội tâm? Hay phải chăng nhà biên soạn Kinh Thánh phát hiện, không phải vô căn cớ, ở nơi cuộc hành trình nầy một biến cố quan phòng? Thật khó xác định rõ ràng. Dù thế nào, truyền thống luôn luôn gìn giữ ký ức sống động về lộ trình tâm linh của ông Áp-ra-ham. Đó là một đề tài gây kinh ngạc vì nhiều lẽ.
Vị tổ phụ gắn bó mật thiết với một Thiên Chúa độc nhất, loại bỏ các vị thần khác của tôn giáo cha ông. Đây là một kinh nghiệm mầu nhiệm đặc biệt, biến cố trọng đại, khởi điểm của ơn tuyển chọn Ít-ra-en.
Khi gọi ông Áp-ra-ham ra đi, Thiên Chúa đòi hỏi nơi ông một hành vi đức tin: cắt đứt mọi ràng buộc của quê hương và họ hàng để ra đi đến một miền đất chưa được xác định:“đến đất mà Ta sẽ chỉ cho người.”Hơn nữa, vào lúc đó, Ngài chưa hứa với ông:“đến đất mà Ta sẽ ban cho ngươi”hay“đến đất mà hậu duệ người sẽ sở hữu”. Ông Áp-ra-ham chấp nhận vâng lời bằng hành vi tin tưởng và phó thác:“Ông A-bra-ham ra đi, như Chúa đã truyền cho ông”.
Chính trong khi sống trong kiếp lang bạt từ Kha-ran đến Ai-cập, đoạn đến Khép-rôn mà A-bra-ham đã chia sẻ thân phận của biết bao người vào thời đó, vì những biến động lịch sử họ phải tha phương lang bạt khắp nơi. Tuy nhiên, chính cũng trong kiếp sống lang bạt đó mà ông Áp-ra-ham càng ngày càng hiểu biết Thiên Chúa của ông hơn, gắn bó mật thiết với Thiên Chúa hơn, Đấng hiện diện với ông trong cảnh đời vô định và cũng phán với ông qua những bất tất lịch sử. Dù ông Áp-ra-ham không thấy ngay tức khắc tất cả những thành quả của lời hứa, nhưng ông đặt để tương lai của mình vào trong sự tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa của ông.
Đây là khuôn mẫu của các bài tường thuật về ơn gọi trong Cựu Ước: Thiên Chúa gọi những lãnh


